Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới Telegram channel photo

Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới

@hoihongtinquansuvnPublic Channel

Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới shares Tin thế giới updates and media on Telegram. Join to stay updated.

Tin thế giớiTiếng ViệtViệt Nam

937

Last views

7.2k (7,172 subscribers)
Thành viên
—
Rating
54
Total Posts
Oct 21, 2026, 10:03 PM
Cập nhật
Apr 4, 2026
Created
Stats

Bạn đang xem nội dung bằng tiếng Việt. Vui lòng thay đổi ngôn ngữ trang web để xem nội dung bằng các ngôn ngữ khác.

Channel Information

Channel Information
Channel NameHội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới
Username@hoihongtinquansuvn
CategoryTin thế giới
LanguageTiếng Việt
CountryViệt Nam
Thành viên7,172
Channel TypePublic Channel
Created4 thg 4, 2026
Last Updated21 thg 10, 2026 • Hôm kia
StatusActive

Xếp hạng

Xếp hạng toàn cầu
#158686+452
Xếp hạng ngôn ngữ
#3063+32
Xếp hạng danh mục
#1083+6

Tăng trưởng người đăng ký

Tổng cộng: 7.2K30 Days growth: +240.3%
09/2209/2710/0210/0710/1210/1710/21
Tăng trưởng người đăng ký - 30 Days
DateSubscribers
22:09:20267,148
23:09:20267,148
24:09:20267,148
25:09:20267,148
26:09:20267,148
27:09:20267,148
28:09:20267,148
29:09:20267,148
30:09:20267,148
01:10:20267,148
02:10:20267,148
03:10:20267,148
04:10:20267,148
05:10:20267,148
06:10:20267,148
07:10:20267,148
08:10:20267,148
09:10:20267,148
10:10:20267,148
11:10:20267,148
12:10:20267,148
13:10:20267,148
14:10:20267,155
15:10:20267,155
16:10:20267,155
17:10:20267,155
18:10:20267,155
19:10:20267,155
20:10:20267,155
21:10:20267,172
Tăng trưởng người đăng ký - Weekly
DateSubscribers
Week of 30:03:20267,099
Week of 06:04:20267,078
Week of 13:04:20267,078
Week of 20:04:20267,078
Week of 27:04:20267,037
Week of 04:05:20267,037
Week of 11:05:20267,173
Week of 18:05:20267,173
Week of 25:05:20267,173
Week of 01:06:20267,203
Week of 08:06:20267,203
Week of 15:06:20267,203
Week of 22:06:20267,203
Week of 29:06:20267,161
Week of 06:07:20267,161
Week of 13:07:20267,169
Week of 20:07:20267,169
Week of 27:07:20267,169
Week of 03:08:20267,156
Week of 10:08:20267,156
Week of 17:08:20267,136
Week of 24:08:20267,139
Week of 31:08:20267,139
Week of 07:09:20267,140
Week of 14:09:20267,148
Week of 21:09:20267,148
Week of 28:09:20267,148
Week of 05:10:20267,148
Week of 12:10:20267,155
Week of 19:10:20267,172
Tăng trưởng người đăng ký - Monthly
DateSubscribers
April 20267,037
May 20267,173
June 20267,161
July 20267,169
August 20267,139
September 20267,148
October 20267,172
Tăng trưởng người đăng ký - Yearly
DateSubscribers
20267,172

Top 10 posts

Most viewed posts from this channel

By views
  1. #1Chiến tranh Ukraine đã chứng minh rằng hệ thống pháo phản lực dẫn đườn8.9K
  2. #2Đây là loại bom đáng để Việt Nam học hỏi,nhất là khi chúng ta chế tạo 7.9K
  3. #3F/A-18F từ tàu sân bay Lincoln xuất kích với bom lượn JSOW tham gia ch7.6K
  4. #4VIII. ẢNH HƯỞNG TOÀN CẦU, CÁC QUỐC GIA HỌC THEO TRIẾT LÝ HIMARS7.5K
  5. #5Ảnh rõ nét về bom BTM 250 của Viettel treo trên Su30 Mk2, ngoài BTM 255.8K
  6. #6Post #86004.6K
  7. #7Nhưng chính tại Ukraine kể từ năm 2022, HIMARS mới thực sự chứng minh 4.6K
  8. #8Tân thủ tướng của Việt Nam hiện tại ngoài học ở Nhật ra thì còn là con4.5K
  9. #9Trong ngày đầu tiên của Chiến dịch Bão táp Sa mạc, lực lượng liên quân4.3K
  10. #10Cậu Độ nay cũng coi page4.3K

Bài đăng gần đây

Không chỉ ở Ia Drang, các nguồn tư liệu Mỹ ghi nhận rằng UH-1D thường xuyên bị giới hạn công suất, nhiều khi không thể bay treo trong điều kiện nóng phổ biến ở Việt Nam. Bay treo là động tác đòi hỏi nhiều công suất nhất của trực thăng, nhưng lại không thể thiếu khi hạ xuống những bãi đáp hẹp giữa rừng hay cẩu thương binh lên.

T53-L-13 giải quyết bài toán này bằng sức mạnh dự trữ. Một động cơ 1.400 mã lực, dù bị không khí nóng và loãng lấy mất một phần đáng kể, vẫn còn đủ sức cung cấp trọn vẹn khoảng 1.100 mã lực cho hộp số. Giới hạn của máy bay lúc này không còn là động cơ yếu, mà là hộp số, và đó là giới hạn do người thiết kế chủ động lựa chọn.

Giới kỹ thuật gọi cách làm này là định mức phẳng, tiếng Anh gọi là flat rating, tức là lắp một động cơ mạnh hơn nhu cầu, rồi giới hạn sức mạnh đầu ra ở một mức cố định. Nhờ vậy, trong phần lớn điều kiện bay thực tế, dù trời mát hay nóng, ở đồng bằng hay trên cao nguyên, phi công vẫn có trong tay cùng một mức sức mạnh đáng tin cậy. Chỉ khi thời tiết và độ cao vượt quá một ngưỡng nhất định, sức mạnh mới bắt đầu suy giảm.

Đó chính là lý do UH-1H, với thân máy bay gần như giống hệt UH-1D, lại trở thành phiên bản chủ lực. Nó nâng được tải nặng hơn, cất cánh được từ những bãi đáp chật hẹp và luôn còn sức dự phòng khi cần thoát hiểm gấp. Nhiều chiếc UH-1D sau đó cũng được nâng cấp lên tiêu chuẩn UH-1H.
9370040
-Thứ ba, hậu cần đơn giản hơn. T53 dùng nhiên liệu phản lực JP-4, chung với máy bay cánh cố định. Động cơ có ít chi tiết chuyển động hơn, chủ yếu là các bộ phận quay tròn, nên bền hơn và dễ bảo dưỡng ngoài chiến trường.
Huey không ra đời với động cơ mạnh ngay từ đầu. Lịch sử của nó là một cuộc chạy đua liên tục để có thêm mã lực.
-UH-1A dùng động cơ T53-L-1, công suất khoảng 770 đến 860 mã lực tùy chế độ. Những chiếc Huey đầu tiên đến miền Nam Việt Nam vào tháng 3 năm 1962. Ngay từ khi thử nghiệm, chúng đã bị đánh giá là thiếu sức mạnh.
-UH-1B dùng động cơ T53-L-5, công suất khoảng 960 mã lực. Đây là bản cải tiến với khoang chở lớn hơn. Khi được lắp súng máy và rocket để làm trực thăng vũ trang, điểm yếu lộ rõ, vũ khí và đạn dược quá nặng so với sức kéo của động cơ.
Động cơ T53-L-11, công suất khoảng 1.100 mã lực, được lắp trên UH-1C, phiên bản trực thăng vũ trang chuyên dụng, và UH-1D, phiên bản thân dài chở quân. Lục quân Mỹ sau đó thay động cơ này cho toàn bộ UH-1B. L-11 trở thành dòng T53 được dùng rộng rãi nhất cho tới khi L-13 ra đời.
Động cơ T53-L-13, công suất khoảng 1.400 mã lực, là bản cải tiến từ L-11, đưa vào sản xuất năm 1966. L-13 trang bị trên UH-1H, phiên bản Huey được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử. Nó cũng được lắp lên UH-1C, khi đó đổi tên thành UH-1M, và trực thăng tấn công AH-1G Cobra.
Có một chi tiết ít người để ý. Trên UH-1H, động cơ T53-L-13 mạnh 1.400 mã lực, nhưng khi lắp vào máy bay nó chỉ được phép dùng khoảng 1.100 mã lực.

Lý do không nằm ở động cơ mà ở hộp số chính, bộ phận truyền lực từ động cơ lên cánh quạt. Bánh răng, trục và ổ đỡ trong hộp số chỉ chịu được một lực xoắn nhất định. Vượt quá giới hạn này, hộp số sẽ mòn nhanh, nứt, thậm chí hỏng ngay khi đang bay. Với trực thăng chỉ có một động cơ, hỏng hộp số gần như đồng nghĩa với thảm họa.
Vậy lắp một động cơ 1.400 mã lực lên chiếc máy bay chỉ được dùng khoảng 1.100 mã lực để làm gì. Câu trả lời nằm ở không khí.

Động cơ turbine ăn không khí. Càng hút được nhiều không khí, nó càng mạnh. Khi trời nóng hoặc ở trên cao, không khí loãng hơn, nghĩa là cùng một thể tích nhưng khối lượng không khí ít hơn. Động cơ hút vào ít hơn, nên yếu đi. Ngoài ra, động cơ turbine còn bị giới hạn bởi nhiệt độ khí thải. Trời càng nóng, không khí đầu vào càng nóng sẵn, động cơ càng nhanh chạm ngưỡng nhiệt cho phép và phải dừng tăng công suất sớm hơn.

Nhưng đó mới là một nửa vấn đề. Nửa còn lại nằm ở cánh quạt. Trực thăng bay lên được là nhờ cánh quạt liên tục đẩy không khí xuống dưới. Khi không khí loãng, cánh quạt phải đẩy mạnh hơn để giữ được cùng một lực nâng, và việc đó lại tốn thêm sức mạnh. Kết quả là Huey bị kẹp từ hai phía, động cơ thì yếu đi, còn cánh quạt lại đòi nhiều sức hơn.
Với động cơ T53-L-11, chỉ cần trời nóng hoặc bay trên cao là sức mạnh thực tế đã tụt xuống dưới 1.100 mã lực. Chiếc trực thăng thiếu lực nâng đúng vào lúc cần nhất, khi chở đầy lính, cất cánh từ một bãi đáp hẹp giữa rừng cây cao, dưới hỏa lực đối phương.

Điểm yếu này lộ ra rõ nhất ở Tây Nguyên, nơi địa hình cao kết hợp với nắng nóng mùa khô.
Tháng 11 năm 1965, Sư đoàn Kỵ binh số 1 Không vận của Mỹ mở chiến dịch tại thung lũng Ia Drang, gần dãy Chư Prông. Đây là trận đánh lớn đầu tiên giữa quân Mỹ và Quân đội Nhân dân Việt Nam, và cũng là phép thử thực chiến lớn đầu tiên của khái niệm kỵ binh bay. Lúc đó động cơ L-13 còn chưa được sản xuất, nên những chiếc Huey chở quân vẫn dùng các động cơ đời trước như L-11.
Hồi ức của các sĩ quan Mỹ tham chiến cho thấy rõ cái giá của việc thiếu công suất.
Trước hết, mỗi chiếc trực thăng chở được ít lính hơn hẳn. Một chỉ huy đại đội kể lại rằng nỗi lo lớn của ông không phải là bãi đáp có hỏa lực đối phương, mà là động cơ yếu của UH-1D cộng với cái nóng. Với tổ bay bốn người, mỗi chiếc Huey thường chỉ chở được 5 đến 6 lính.
Bên cạnh đó, việc đổ quân bị kéo dài và lực lượng bị chia nhỏ. Tiểu đoàn của Trung tá Hal Moore đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray theo từng đợt 8 chiếc. Với chỉ 16 chiếc Huey khả dụng, mỗi vòng đi về mất ít nhất 30 phút. Trong những khoảng trống đó, bộ phận đã xuống trước phải tự trụ vững trong lúc chờ đợt tiếp theo.
8070015
Nhắc đến cuộc chiến tại Việt Nam, nhiều người nghĩ ngay đến tiếng phành phạch của trực thăng UH-1 Iroquois, mà lính Mỹ quen gọi là Huey. Hình ảnh chiếc trực thăng sà xuống bãi đáp giữa rừng để đổ quân hay chở thương binh đã trở thành biểu tượng của cả một cuộc chiến.
Nhưng thứ làm nên sức mạnh của Huey không nằm ở bộ cánh quạt quen thuộc. Bí mật nằm trong khối động cơ nhỏ gọn đặt phía sau cột rotor, đó là Lycoming T53.

T53 được thiết kế bởi nhóm kỹ sư do Anselm Franz, một kỹ sư người Áo, dẫn dắt. Ông chính là người từng chỉ đạo thiết kế Junkers Jumo 004, động cơ phản lực đầu tiên được sản xuất hàng loạt và đưa vào chiến đấu, lắp trên tiêm kích Me 262 của Đức thời Thế chiến II.

T53 là công nghệ then chốt giúp Lục quân Mỹ phát triển khái niệm kỵ binh bay, tức dùng trực thăng để cơ động bộ binh trên quy mô lớn, trong cuộc chiến tại Việt Nam.
Trước Huey, trực thăng quân sự Mỹ gần như đều dùng động cơ piston, loại động cơ có xi-lanh và piston chuyển động lên xuống giống động cơ ô tô, chỉ lớn hơn nhiều. Cùng thời với Huey, chỉ có một số ít mẫu như HH-43B Huskie của Không quân Mỹ cũng chuyển sang dùng turbine T53.
Động cơ piston có ba điểm yếu lớn.

-Thứ nhất, nó rất nặng so với sức mạnh. Trực thăng H-34 Choctaw cùng thời dùng động cơ piston 9 xi-lanh, cho khoảng 1.500 mã lực nhưng nặng khoảng 630 kg.
-Thứ hai, nó kén nhiên liệu. Động cơ piston cần xăng hàng không chỉ số octane rất cao, một loại nhiên liệu riêng mà hậu cần phải vận chuyển song song với nhiên liệu phản lực cho máy bay.
-Thứ ba, nó phức tạp về cơ khí, với rất nhiều chi tiết chuyển động qua lại, cần hệ thống làm mát, cần bộ ly hợp để nối và ngắt động cơ với cánh quạt.

T53 thay đổi hoàn toàn bức tranh đó. Phiên bản T53-L-13 chỉ nặng khoảng 249 kg nhưng cho tới 1.400 mã lực. Nói cách khác, với mỗi kg khối lượng, T53 cho sức mạnh hơn gấp đôi động cơ piston cùng thời.
T53 là động cơ turboshaft trục tự do. Nghe phức tạp, nhưng có thể hình dung đơn giản, động cơ gồm hai phần quay riêng biệt, không nối cứng với nhau.

-Phần thứ nhất là cụm sinh khí, có nhiệm vụ tạo ra dòng khí nóng thật mạnh. Đầu tiên, không khí được hút vào và nén lại qua 6 tầng máy nén, gồm 5 tầng hướng trục và 1 tầng ly tâm. Tiếp theo, không khí nén được trộn với nhiên liệu và đốt cháy trong buồng đốt hình vòng khuyên kiểu dòng ngược. Dòng ngược nghĩa là dòng khí bị gập lại, quay đầu bên trong buồng đốt, nhờ đó động cơ ngắn và gọn hơn. Cuối cùng, khí nóng thoát ra đi qua turbine thứ nhất. Turbine này quay ngược lại máy nén và các phụ kiện của động cơ, giữ cho cả cụm tự duy trì hoạt động.

-Phần thứ hai là turbine công suất. Dòng khí nóng còn lại tiếp tục thổi qua một turbine thứ hai, nằm trên một trục riêng, không nối cơ khí với cụm sinh khí. Turbine này giống như một chiếc cối xay gió nằm trong luồng khí nóng, nó quay và truyền lực qua hộp số tới cánh quạt trực thăng.
Trục của turbine công suất chạy xuyên qua lòng cụm sinh khí và đưa lực ra ở phía trước động cơ. Cách bố trí này về sau trở thành chuẩn mực được áp dụng rộng rãi cho động cơ trực thăng của Mỹ.

Thiết kế trục tự do quan trọng vì ba lý do.
-Thứ nhất, không cần ly hợp. Khi khởi động, cụm sinh khí quay lên trước. Cánh quạt nặng nề chỉ bắt đầu quay khi dòng khí đủ mạnh để đẩy turbine công suất. Không cần bộ ly hợp như động cơ piston, bớt đi một chi tiết dễ hỏng.
-Thứ hai, cánh quạt luôn quay đều. Cánh quạt trực thăng phải quay ở tốc độ gần như cố định mới tạo lực nâng hiệu quả. Khi phi công kéo cần bước chung, tiếng Anh gọi là collective, lên để bay lên cao hoặc nâng tải nặng, góc nghiêng của các lá cánh tăng lên, lực cản không khí tăng và cánh quạt có xu hướng chậm lại. Lúc này bộ điều tốc tự động bơm thêm nhiên liệu. Cụm sinh khí quay nhanh hơn, tạo nhiều khí nóng hơn, giữ cho cánh quạt không bị tụt vòng quay. Vì hai phần quay độc lập, cụm sinh khí có thể tăng giảm tốc độ linh hoạt mà không làm cánh quạt bị giật theo. Phi công nhờ vậy nhẹ gánh đi rất nhiều.
8150018
Mấy thằng bàn méo lại nghĩ đội ad trang này đấu đá nội bộ ,ghớm chúng nó đẹp đéo gì,xưa tạo phản sút lão Thỏ để giờ các group tàn tạ vãi chó.Sai quy định thì phải kỉ luật ,nhất là thích giao du với bọn VTV .
1,83000105
Vụ 2 admin page bị kỉ luật không phải là do đăng tin , lý do 2 bạn đó hơi háo danh nên đã tự ý liên hệ với nhà đài ,việc đó page hay group đều cấm .Trang này lập ra để cung cấp tin free thì cũng cấm các admin đi làm Kol
2,11000190
Photo1/2
Hiện tại VCM 06 đã có tầm bắn tối đa 1074km , trừ khoản nhiên liệu dùng cho thao diễn cơ động thì nó bao quát mục tiêu tầm 1000km. Hiện tại rất có khả năng Viettel nghiên cứu bản đánh đất .
2,24000127
Chiến tranh Ukraine đã chứng minh rằng hệ thống pháo phản lực dẫn đường chính xác, cơ động cao, nạp đạn nhanh có khả năng thay đổi cục diện chiến trường một cách quyết định. Chính vì vậy, triết lý thiết kế kiểu HIMARS đang được hàng loạt quốc gia học theo và nhân rộng, từ K239 Chunmoo của Hàn Quốc đến GMARS của Rheinmetall và Lockheed Martin, từ PHL-11 của Trung Quốc đến vô số chương trình pháo phản lực mới đang nổi lên trên toàn cầu. Trong kỷ nguyên mà hỏa lực tầm xa dẫn đường chính xác quyết định thắng bại, gia đình M270 và HIMARS không chỉ là một hệ thống vũ khí, mà là tiêu chuẩn mà mọi quốc gia đều đang hướng tới.
8,9100087
VIII. ẢNH HƯỞNG TOÀN CẦU, CÁC QUỐC GIA HỌC THEO TRIẾT LÝ HIMARS

Với những ưu điểm đã chứng minh trên chiến trường, triết lý thiết kế kiểu HIMARS đang lan rộng trên toàn thế giới.
Điển hình nhất là hệ thống K239 Chunmoo của Hàn Quốc. K239 mang hai module đạn với dáng dấp rất giống M270, chỉ khác là đặt trên khung gầm xe tải thay vì gầm xích, kết hợp lợi thế hỏa lực kép của M270 với tính cơ động đường bộ của HIMARS. K239 đang được ưa chuộng mạnh mẽ, Ba Lan nổi bật nhất với kế hoạch mua 290 hệ thống lắp ráp trong nước dưới tên gọi Homar-K, ngoài ra Na Uy, Estonia, Ả Rập Saudi và Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng đã đặt mua.
Trung Quốc phát triển dòng PHL-11 với phiên bản xuất khẩu SR-4 và SR-5, một loại pháo phản lực gọn nhẹ theo phong cách hình hộp module kiểu HIMARS, được bán sang Đông Nam Á, châu Phi và Trung Đông.
Tại châu Âu, liên doanh Rheinmetall và Lockheed Martin đang phát triển hệ thống GMARS có khả năng phóng toàn bộ các loại đạn Lockheed Martin phát triển cho MLRS và HIMARS bao gồm GMLRS tầm 70 km, ER GMLRS tầm 150 km, ATACMS tầm 300 km và PrSM tầm vượt 500 km. GMARS tiến thêm một bước khi cung cấp cả tùy chọn nạp đạn kiểu tời tích hợp lẫn cần cẩu gắn ngoài, cho phép sử dụng được cả đạn kiểu Mỹ lẫn đạn của các nước châu Âu khác.

Một xu hướng đang hình thành rõ nét là các nhà sản xuất thiết kế sẵn bệ phóng tương thích cơ cấu nạp kiểu HIMARS, nhưng để khách hàng tùy chọn có tích hợp hay không. Phương án có tời nạp tích hợp phức tạp hơn về cơ khí và giá cao hơn nhưng vượt trội về tính năng, trong khi phương án cần cẩu hoặc nạp thủ công cắt giảm chi phí cho những quốc gia có ngân sách hạn chế. Dù chọn phương án nào, bản chất bài toán vẫn không đổi, đó là nạp đạn nhanh, ít nhân lực, ít bộc lộ trên chiến trường, và sẵn sàng cho tự động hóa trong tương lai.

IX. HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NĂNG LỰC SẢN XUẤT
M270A2 là phiên bản tiến hóa tiên tiến nhất của gia đình MLRS, tích hợp hệ thống điều khiển hỏa lực chung CFCS thế hệ mới nhất, đảm bảo tương thích đầy đủ với các loại đạn hiện tại và tương lai bao gồm GMLRS, ER GMLRS, ATACMS và PrSM, được đưa vào biên chế từ năm 2022.
Về HIMARS, tính đến tháng 11 năm 2025 đã có 750 hệ thống được sản xuất, giá thành nội địa khoảng 4,9 triệu đô la mỗi bệ phóng theo năm tài khóa 2024 và giá xuất khẩu khoảng 19 đến 20 triệu đô la. Năng lực sản xuất HIMARS đã tăng từ 48 lên 60 hệ thống mỗi năm và đang trên lộ trình đạt 96 hệ thống mỗi năm.

M142 HIMARS hiện đang được vận hành bởi Hoa Kỳ, Ukraine, Singapore, Jordan, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Romania, Ba Lan, Úc, Estonia, Lithuania, Latvia, Ý và nhiều quốc gia đồng minh khác, các nước bổ sung bao gồm Hà Lan, Na Uy, Đài Loan và Canada đã được duyệt mua. Úc nhận những hệ thống đầu tiên trong tổng số 42 bệ phóng theo hợp đồng 1,6 tỷ đô la vào tháng 3 năm 2025, còn Estonia nhận bệ phóng đầu tiên vào tháng 4 năm 2025.

TÓM LẠI
Từ chương trình GSRS năm 1975 đến phiên bản robot AML năm 2025, hành trình phát triển của gia đình M270 và HIMARS phản ánh một triết lý nhất quán xuyên suốt nửa thế kỷ, đó là kết hợp hỏa lực mạnh với tính cơ động cao và khả năng tự nạp đạn tích hợp để tối đa hóa khả năng sống sót trên chiến trường.

M270 với 12 rocket trên gầm xích giải quyết bài toán hỏa lực áp đảo và cơ động trên mọi địa hình. HIMARS với 6 rocket trên xe tải giải quyết bài toán triển khai nhanh bằng đường không và cơ động cao trên đường bộ. Gia đình đạn dược từ M26 tầm 32 km đến PrSM tầm hơn 500 km giải quyết bài toán tấn công chiều sâu từ cấp chiến thuật đến cấp chiến dịch. Cơ cấu nạp đạn LLM giải quyết bài toán giảm bộc lộ trên chiến trường. Và phiên bản AML tự lái giải quyết bài toán bảo vệ sinh mạng kíp xe trong môi trường tác chiến hiện đại đầy rẫy UAV trinh sát và UAV cảm tử.
7,5500020
Nhưng chính tại Ukraine kể từ năm 2022, HIMARS mới thực sự chứng minh giá trị thay đổi cuộc chơi. Năm 2022, hệ thống được cung cấp cho Ukraine và đã được sử dụng để tấn công các sở chỉ huy, kho đạn dược và các cụm quân, trong năm 2024 và 2025 HIMARS Ukraine đã nhắm vào cơ sở hạ tầng và đoàn xe quân sự tại các khu vực Belgorod và Kursk. Với GMLRS dẫn đường GPS đánh trúng mục tiêu ở cự ly 70 đến 80 km với sai số dưới vài mét, HIMARS đã phá hủy hàng loạt kho đạn pháo, sở chỉ huy cấp lữ đoàn, trạm radar phòng không và đầu mối hậu cần của Nga, nhiều mục tiêu nằm sâu sau chiến tuyến nơi quân Nga nghĩ rằng an toàn.

Tuy nhiên, chiến trường Ukraine cũng phơi bày những thách thức thực tế. Nga đã triển khai các biện pháp gây nhiễu GPS nhằm giảm độ chính xác của GMLRS, đồng thời sử dụng UAV trinh sát để phát hiện và tấn công bệ phóng HIMARS. Phía Ukraine đáp trả bằng cách sử dụng mồi nhử gỗ giả HIMARS để đánh lừa trinh sát đường không, liên tục thay đổi vị trí bắn và nạp đạn, tận dụng triệt để chiến thuật bắn xong chạy mà hệ thống được thiết kế cho.

VI. CƠ CẤU NẠP ĐẠN TÍCH HỢP, TRIẾT LÝ THIẾT KẾ THEN CHỐT
Nếu phóng đạn nhanh và chạy nhanh chỉ giải quyết một nửa bài toán cơ động thì nửa còn lại là nạp đạn. Đây là điểm mà thiết kế LLM của M270 và HIMARS tạo ra khác biệt bản chất so với nhiều hệ thống pháo phản lực khác trên thế giới.
Cơ cấu LLM cho phép xe bệ phóng tự nạp module đạn mà không cần xe tiếp đạn chuyên dụng đi kèm. Module đạn được chuẩn bị sẵn tại các điểm nạp ngụy trang trên chiến trường, xe bệ phóng tự cơ động đến, sử dụng cơ cấu tời tích hợp để kéo module lên ray trượt của bệ phóng, căn chỉnh tự động cho thẳng hàng, rồi di chuyển đến vị trí bắn khác. Chỉ cần một đến hai người đứng trên mặt đất đã có thể hoàn thành nạp cả module, vì module đã được căn chỉnh sẵn để khớp với ray trượt.

Nguyên tắc cốt lõi là giảm tối đa hiện diện của các thành phần khác trong chu trình bắn rồi nạp rồi di chuyển. Một tổ hợp chỉ cần xe bệ phóng cơ động giữa các điểm bắn và điểm nạp đạn, không bộc lộ thêm mục tiêu nào khác cho đối phương. Việc ngụy trang một vị trí chỉ có vài module đạn nằm im dưới lưới ngụy trang dễ dàng hơn rất nhiều so với ngụy trang một vị trí có xe cẩu, nhân lực đông đúc và xe tải tiếp đạn cồng kềnh.

Trong khi đó, nhiều hệ thống pháo phản lực của các nước khác sử dụng cần cẩu để đưa module đạn lên bệ phóng. Cần cẩu nâng module lên cao so với xe bệ, cần nhiều nhân lực đứng cả trên xe lẫn dưới đất để điều chỉnh hướng, căn chỉnh vị trí và cố định module. Quy trình này chậm hơn, cần nhiều người hơn, và khi phải thay đổi giữa các loại đạn khác nhau tùy nhiệm vụ thì thời gian tăng lên đáng kể.

VII. HIMARS TỰ LÁI VÀ TƯƠNG LAI ROBOT HÓA

Nhưng ý nghĩa chiến lược sâu xa nhất của thiết kế nạp đạn tích hợp kiểu LLM nằm ở tiềm năng tự động hóa hoàn toàn. Lockheed Martin đã thử nghiệm thành công cấu hình không người lái của hệ thống M142 HIMARS sử dụng công nghệ cảm biến thụ động cho phép thực hiện nhiệm vụ tự hành mà không phát xạ chủ động, bệ phóng được xác nhận có khả năng di chuyển, triển khai và tấn công mục tiêu mà không cần người trên xe.

Chương trình này mang tên Autonomous Multi-Domain Launcher hay AML. Xe tự lái đến điểm nạp đạn, cơ cấu LLM tự động đọc vị trí module đạn trên xe tiếp đạn rồi tự nạp vào bệ phóng, sau đó tự cơ động đến vị trí bắn, tự ngắm và khai hỏa rồi tự rời đi. Toàn bộ quy trình không cần con người trên xe. Điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ cơ cấu nạp đạn tích hợp kiểu tời kéo ray trượt, vì nếu dùng cần cẩu thì robot sẽ cần hệ thống cơ khí phức tạp hơn nhiều bậc để nâng, điều chỉnh và hạ module trong không gian ba chiều.

Chương trình AML liên quan đến biến thể HIMARS không người lái được thiết kế để nâng cao tính linh hoạt tác chiến đồng thời giảm thiểu phơi nhiễm của nhân lực. Trong bối cảnh chiến trường hiện đại nơi UAV trinh sát, UAV cảm tử và tên lửa chống bức xạ có thể phát hiện và tấn công bệ phóng trong vài phút sau khi bắn, một bệ phóng robot có thể hoạt động ở vùng nguy hiểm mà không đặt sinh mạng kíp xe vào rủi ro. Đây là tương lai của pháo binh.
4,6100014
Sau chiến tranh Vùng Vịnh, Lục quân Mỹ nhận ra rằng M270 với trọng lượng 25 tấn trên gầm xích quá nặng để vận chuyển nhanh bằng đường không. Yêu cầu về một bệ phóng rocket đa nòng hạng nhẹ xuất phát từ năm 1982 nhằm phục vụ Sư đoàn Bộ binh 9, việc phát triển được ưu tiên sau chiến tranh Vùng Vịnh khi M270 bị đánh giá là quá nặng cho triển khai nhanh bằng không vận. Lockheed Martin nhận hợp đồng chế tạo mẫu thử năm 1996, và hệ thống chính thức vào biên chế tháng 6 năm 2005.

Ý tưởng cốt lõi rất đơn giản nhưng hiệu quả, lấy cơ cấu LLM của M270 nhưng chỉ giữ một module thay vì hai, rồi đặt lên khung gầm xe tải FMTV 5 tấn bánh lốp 6x6 thay vì gầm xích Bradley. Kết quả là HIMARS có trọng lượng chiến đấu khoảng 16,25 tấn, dài 6,94 mét, rộng 2,44 mét, cao 3,18 mét, kíp xe 3 người, bệ phóng xoay 360 độ, tốc độ tối đa 94 km một giờ và tầm hành trình 480 km trên đường. Với trọng lượng này, HIMARS có thể được vận chuyển bằng máy bay vận tải C-130 Hercules, cho phép triển khai nhanh đến bất kỳ chiến trường nào .

M142 HIMARS có khả năng phóng toàn bộ gia đình đạn MLRS bao gồm GMLRS, ER GMLRS tầm xa, ATACMS và tên lửa tấn công chính xác PrSM, bệ phóng mang một module chứa sáu quả rocket 227mm hoặc một tên lửa chiến thuật và có thể tấn công mục tiêu ở cự ly vượt 500 km tùy loại đạn sử dụng.

Điều làm nên sức mạnh thực sự của HIMARS không phải là số lượng rocket mỗi loạt bắn, vì nó chỉ mang một nửa so với M270, mà là sự kết hợp giữa hỏa lực chính xác cấp mét với tính cơ động vượt trội. Xe tải bánh lốp nhanh hơn gầm xích trên đường nhựa, tiêu thụ ít nhiên liệu hơn, bảo trì đơn giản hơn, và quan trọng nhất là có thể bay đến chiến trường trong bụng C-130 rồi chiến đấu ngay sau khi hạ cánh.

IV. GIA ĐÌNH ĐẠN DƯỢC, TỪ 32 KM ĐẾN HƠN 500 KM
Sức mạnh thực sự của cả M270 và HIMARS nằm ở gia đình đạn dược ngày càng mở rộng. Đạn M26 nguyên bản có tầm bắn 32 km với 644 đạn con M77, phù hợp cho chế áp diện rộng kiểu "mưa thép" trong Chiến tranh Vùng Vịnh. Phiên bản tầm xa M26A1/A2 nâng tầm lên 45 km. Bước nhảy lớn nhất đến khi Mỹ phát triển GMLRS, tức rocket MLRS dẫn đường GPS, với đầu đạn đơn nhất 90 kg đánh trúng mục tiêu điểm ở cự ly 70 đến 92 km với sai số chỉ vài mét. ER GMLRS thế hệ mới gấp đôi tầm bắn lên 150 km so với GMLRS tiêu chuẩn, đồng thời duy trì độ chính xác và độ tin cậy mà người dùng kỳ vọng từ hệ thống gốc.

Tên lửa chiến thuật ATACMS Block 1 sử dụng trong Chiến dịch Bão sa mạc mang 950 đạn con M74 đến tầm bắn 165 km dẫn quán tính, phiên bản Block IA mở rộng tầm lên hơn 300 km bằng cách giảm đạn con và thêm dẫn đường GPS. Đây là loại đạn biến M270 và HIMARS từ pháo phản lực thành hệ thống tên lửa chiến thuật có khả năng tấn công sâu vào hậu phương đối phương.

Tên lửa tấn công chính xác PrSM là bước tiến mới nhất, thay thế ATACMS với tầm bắn hiện tại 500 km và lộ trình nâng lên. Các biến thể PrSM tương lai có thể đạt tầm tới 1.000 km với tùy chọn chống tàu. Mỗi module mang được 2 quả PrSM thay vì 1 quả ATACMS, gấp đôi hỏa lực tên lửa. PrSM đã đạt khả năng tác chiến từ năm 2023 và đang được phát triển thêm khả năng tấn công mục tiêu di động.

V. THỰC CHIẾN, TỪ VÙNG VỊNH ĐẾN UKRAINE
M270 lần đầu tham chiến cùng Hoa Kỳ trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1991. Trong chiến dịch đó, các đơn vị MLRS của Mỹ và Anh đã trút hàng trăm loạt rocket xuống trận địa Iraq, tạo hiệu ứng chế áp tâm lý và vật chất khổng lồ, dọn đường cho các mũi tiến công thiết giáp quét qua phòng tuyến đối phương. Lần sử dụng chiến đấu đầu tiên của GMLRS dẫn đường chính xác diễn ra vào tháng 9 năm 2005 tại Tal Afar, Iraq, hai quả rocket được bắn từ cự ly hơn 50 km vào hai cứ điểm nổi dậy và cả hai đều trúng mục tiêu, tiêu diệt 48 phần tử vũ trang.
2,7700012
Pháo phản lực M270 (trái) và M142 HIMARS (phải) .

Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, lính Iraq gọi một loại vũ khí bằng cái tên đầy kinh hoàng, "mưa thép". Đó không phải bom từ máy bay hay đạn pháo thông thường, mà là hàng trăm quả rocket 227mm từ hệ thống M270 MLRS đổ xuống trận địa chỉ trong vài chục giây, mỗi quả phóng ra 644 quả đạn con M77 tản mát trên không rồi rơi xuống như mưa, phá hủy xe tăng, pháo binh, trận địa phòng không và đội hình bộ binh trên diện tích hàng chục hecta. Các đơn vị pháo phản lực này đã chứng minh giá trị thực chiến bên cạnh những vũ khí khác thời Chiến tranh Lạnh như xe tăng M1 Abrams, xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley và trực thăng AH-64 Apache.
Hơn ba mươi năm sau, dòng dõi trực tiếp của M270 là hệ thống M142 HIMARS đã trở thành một trong những vũ khí thay đổi cục diện chiến trường rõ rệt nhất tại Ukraine, đánh trúng các sở chỉ huy, kho đạn, cụm hậu cần và trận địa phòng không của Nga với độ chính xác cấp mét từ khoảng cách hàng trăm km.

I. NGUỒN GỐC, TỪ MỘT BÀI TOÁN THỜI CHIẾN TRANH LẠNH

Vào đầu thập niên 1970, khối Warsaw có ưu thế áp đảo về pháo phản lực so với NATO cả về số lượng lẫn tầm bắn. Hệ thống M270 MLRS được phát triển trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và đưa vào biên chế đầu thập niên 1980, được thiết kế để tạo ra hỏa lực áp đảo trên diện rộng trong thời gian ngắn. Năm 1975, Lục quân Mỹ khởi động chương trình Hệ thống Hỏa lực Chi viện Rocket Chung, viết tắt là GSRS, với yêu cầu rất rõ ràng là phải cho ra một mẫu pháo phản lực cỡ nòng lớn có tính cơ động cao, đủ sức đối trọng với ưu thế số lượng pháo của khối Warsaw trên chiến trường Trung Âu. Tất cả các mẫu tham gia đều được đặt trên gầm bánh xích và phải có cơ cấu phóng kết hợp nạp đạn tích hợp, tiếng Anh gọi là Launcher-Loader Module hay LLM. Cuối cùng, phương án của công ty Vought thắng thầu và trở thành hệ thống M270 MLRS chính thức.

M270 được xây dựng trên khung gầm kéo dài của xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley, tạo thành xe mang phóng M993 với bệ phóng M270 lắp phía trên. Các xe M270 đầu tiên được bàn giao năm 1983 và nhanh chóng được nhiều quốc gia NATO lẫn ngoài NATO tiếp nhận.

II. M270 MLRS, NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT VÀ THÔNG SỐ
Hệ thống MLRS là hệ thống tự động hóa cao có khả năng tự nạp và tự ngắm, tích hợp máy tính điều khiển hỏa lực kết nối các hoạt động của xe và bệ phóng rocket, và mà không cần rời cabin, kíp xe ba người gồm lái xe, xạ thủ và trưởng xe có thể bắn tối đa 12 quả rocket MLRS trong chưa đầy 60 giây. Bệ phóng mang 12 quả rocket 227mm đóng trong hai module sáu quả. Rocket có thể bắn từng quả hoặc bắn loạt từ hai đến mười hai quả, và máy tính tự động ngắm lại bệ phóng giữa các phát bắn để duy trì độ chính xác trong mọi chế độ.

Về hệ thống động lực, phiên bản M270A2 được trang bị động cơ 600 mã lực cải tiến, hộp số mới, hệ thống treo nâng cấp và cabin bọc thép cải thiện. Trọng lượng chiến đấu khoảng 25 tấn, gầm bánh xích cho phép cơ động trên mọi địa hình kể cả bùn lầy và tuyết. Xe có hệ thống phòng hộ NBC chống vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học, cùng thiết bị nhìn đêm.

Về đạn dược, M270 có thể phóng toàn bộ gia đình đạn MLRS. Bao gồm GMLRS dẫn đường GPS với tầm bắn 70 km, phiên bản tầm xa ER GMLRS với tầm 150 km, tên lửa chiến thuật ATACMS với tầm 300 km, và tên lửa tấn công chính xác thế hệ mới PrSM với tầm vượt 500 km, trong đó mỗi module chứa 6 quả GMLRS hoặc ER GMLRS, 1 quả ATACMS hoặc 2 quả PrSM.

Học thuyết sử dụng M270 tận dụng tính cơ động và hỏa lực của nó. Để tránh hỏa lực phản pháo, các xe M270 sẽ phân tán và ẩn nấp cho đến khi nhận nhiệm vụ bắn. Xe sau đó di chuyển đến vị trí bắn, phóng rocket rồi lập tức rời đi trước khi đối phương kịp tính toán vị trí phóng bằng radar để bắn trả. Kíp xe sau đó đến điểm nạp đạn, nạp module rocket mới và di chuyển đến vị trí ẩn nấp hoàn toàn khác gần một điểm bắn khác. Đây chính là chiến thuật "bắn xong chạy" nổi tiếng, và cơ cấu LLM tự nạp tích hợp trên xe là yếu tố kỹ thuật quyết định khiến chiến thuật này khả thi.

III. M142 HIMARS, PHIÊN BẢN NHẸ CƠ ĐỘNG ĐƯỜNG KHÔNG
3,1300021
Thứ tư là tác chiến, mang theo bom và tên lửa thông minh để tự tấn công. Thứ năm là chuyển tiếp thông tin, hoạt động như một trạm phát sóng bay giúp liên lạc thông suốt giữa các đơn vị trên chiến trường.
Vai trò "trạm phát sóng bay"
Đặc biệt đáng chú ý là vai trò chuyển tiếp thông tin. Với khả năng bay liên tục trên 24 giờ ở độ cao 10 km, VU-MALE có thể hoạt động như một nút chuyển tiếp thông tin trên không, mở rộng vùng phủ liên lạc cho các đơn vị trên mặt đất, trên biển hoặc cho các máy bay không người lái nhỏ hơn đang hoạt động ở tầm xa. Đây chính là ứng dụng mà chỉ một máy bay MALE có dẫn đường vệ tinh mới thực hiện được. Điều này giúp máy bay không chỉ là công cụ trinh sát đơn lẻ mà còn là một phần trong hệ sinh thái tác chiến C5ISR tức hệ thống tích hợp chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tác chiến mạng, tình báo, giám sát và trinh sát — mà Viettel đang xây dựng.
________
Qua toàn bộ phân tích trên, có thể khẳng định rằng dẫn đường vệ tinh giúp máy bay không người lái bay xa hơn trạm điều khiển thông thường không phải vì một lý do đơn lẻ, mà vì nó đồng thời phá vỡ toàn bộ năm rào cản bản chất của liên kết tầm nhìn thẳng.
Vệ tinh xóa bỏ hoàn toàn giới hạn chân trời vô tuyến và địa hình. GNSS trao cho máy bay khả năng tự hành hoàn toàn theo điểm tham chiếu, biến tầm hoạt động từ "tầm phát sóng của trạm" thành "tầm nhiên liệu của máy bay". SATCOM cung cấp liên kết điều khiển ngoài tầm nhìn trên phạm vi toàn cầu, cho phép trạm đặt ở hậu phương an toàn. Và kiến trúc dự phòng nhiều lớp — GNSS kết hợp dẫn đường quán tính kết hợp đối chiếu địa hình đảm bảo máy bay duy trì điều hướng chính xác ngay cả trong môi trường tác chiến điện tử đối kháng khốc liệt.
4,1500023
Một máy bay không người lái quân sự hiện đại không bao giờ chỉ dựa vào một phương thức dẫn đường duy nhất. Tín hiệu GNSS vốn rất yếu khi đến bề mặt Trái Đất, với công suất khoảng −130 dBm, nên dễ bị gây nhiễu (jamming) hoặc giả mạo (spoofing) trong môi trường tác chiến điện tử. Chính vì vậy các hệ thống tầm xa luôn được thiết kế với kiến trúc dự phòng nhiều lớp.
Lớp thứ nhất: GNSS đa chòm sao. Máy bay sử dụng GPS ,GLONASS và có thể thêm BeiDou hoặc Galileo. Các vệ tinh GPS thế hệ mới Block III còn phát tín hiệu M-code quân sự với công suất cao hơn và mã hóa chống giả mạo.
Lớp thứ hai: dẫn đường quán tính (INS). Máy bay dựa vào khối đo lường quán tính (IMU) và hệ dẫn đường quán tính (INS) để duy trì ổn định bay và hành trình khi không có tín hiệu GNSS. Đối với các hoạt động ngoài tầm nhìn, INS cung cấp khả năng dự phòng then chốt. Hệ thống sử dụng con quay hồi chuyển sợi quang hoặc con quay laser vòng kết hợp với gia tốc kế để tự tính toán vị trí dựa trên các thay đổi về gia tốc và hướng theo phương pháp suy đoán vị trí . Các máy bay quân sự trong nhiệm vụ trinh sát tại không phận bị tranh chấp sử dụng IMU cấp chiến thuật và con quay sợi quang để đảm bảo dẫn đường đáng tin cậy bất chấp gây nhiễu và giả mạo.
Lớp thứ ba: đối chiếu địa hình (TERCOM) và đối sánh cảnh kỹ thuật số (DSMAC). Máy bay so khớp dữ liệu địa hình thực tế thu được từ radar đo cao hoặc camera quang học với bản đồ số đã nạp sẵn trong bộ nhớ để xác định vị trí mà không cần bất kỳ tín hiệu bên ngoài nào.
Lớp thứ tư: anten chống nhiễu (CRPA). Đây là loại anten mảng pha có khả năng triệt nhiễu từ hướng cụ thể đồng thời tăng cường thu tín hiệu vệ tinh thực.
Lớp thứ năm: SATCOM trên nhiều băng tần. Máy bay sử dụng đồng thời Ku, Ka và X-band qua nhiều vệ tinh để giảm thiểu khả năng bị chế áp toàn bộ.
Hệ thống điều khiển bay tiên tiến hiện nay tích hợp các thuật toán có khả năng nhận diện các nỗ lực gây nhiễu và giả mạo. Khi phát hiện, hệ thống tự động ưu tiên các nguồn dẫn đường thay thế và tham khảo thông tin từ các cảm biến còn lại để đảm bảo an toàn bay.
Khi đặt những phân tích kỹ thuật ở trên vào bối cảnh Việt Nam, có thể thấy rõ tại sao VU-MALE của Viettel lại là một bước tiến có ý nghĩa.
VU-MALE là loại máy bay không người lái đa năng tầm xa, thuộc phân khúc MALE tức máy bay hoạt động ở độ cao trung bình với thời gian bay dài. Theo các nguồn cập nhật từ Triển lãm 80 năm Thành tựu Đất nước vào tháng 8 năm 2025, VU-MALE có các thông số chính như sau:
• Sải cánh: 17 mét
• Chiều dài: 8,5 mét
• Trọng lượng cất cánh tối đa: 1.500 kg
• Tải trọng tối đa: 500 kg
• Trần bay: 10 km
• Thời gian bay liên tục: trên 24 giờ
• Tốc độ hành trình: 140 đến 180 km/h
• Tốc độ tối đa: 200 km/h
• Cự ly hoạt động: trên 1.000 km
Nhìn vào các bức ảnh từ triển lãm, có thể nhận ra VU-MALE mang dưới bụng một tháp quang điện tử đa kênh (EO/IR) cho phép quan sát ngày đêm, đo xa bằng laser và chỉ thị mục tiêu cho vũ khí dẫn đường chính xác. Phía đuôi máy bay có cánh quạt đẩy kiểu cánh quạt phản lực (turboprop), hai bên cánh có điểm treo cho tên lửa hoặc bom thông minh.
Máy bay có thể mang quang điện tử, radar, thực hiện tác chiến điện tử, hoặc lắp đặt tên lửa loại nhẹ và bom thông minh khi thực hiện nhiệm vụ.
Tại sao VU-MALE gần như chắc chắn phải dùng dẫn đường vệ tinh
Với tầm bay trên 1.000 km, VU-MALE rõ ràng không thể hoạt động chỉ bằng liên kết tầm nhìn thẳng. Áp dụng công thức chân trời vô tuyến với trần bay 10.000 m và anten trạm mặt đất cao 10 mét, tầm LOS tối đa chỉ khoảng 369 km — còn thiếu hơn 600 km so với tầm hoạt động công bố. Điều này cho thấy VU-MALE gần như chắc chắn phải được trang bị hệ thống GNSS cho phép bay tự hành theo điểm tham chiếu, kết hợp với dẫn đường quán tính (INS) dự phòng.
Các nhiệm vụ VU-MALE có thể thực hiện
Người điều khiển trên mặt đất giám sát qua trung tâm điều hành và có thể ra lệnh cho máy bay thực hiện nhiều loại nhiệm vụ. Thứ nhất là trinh sát quang điện tử để quan sát mục tiêu ngày đêm. Thứ hai là trinh sát điện tử và radar để phát hiện hoạt động của đối phương từ xa. Thứ ba là chỉ thị mục tiêu, dẫn đường cho tên lửa hoặc pháo binh.
3,270004
Phá vỡ sự phụ thuộc vào trạm mặt đất thông qua tự hành theo điểm tham chiếu
Khả năng bay tự động là một trong những ưu điểm chính của công nghệ máy bay không người lái. Quá trình bay tự hành được thực hiện bằng cách thiết lập các điểm tham chiếu (waypoint) trên máy tính của người vận hành. Khi hành trình bay đã được xác định và máy bay được phóng lên, nó sẽ tự bay theo chương trình.
Ý nghĩa chiến thuật ở đây rất sâu sắc: khi máy bay tự hành theo điểm tham chiếu bằng GNSS, tầm hoạt động không còn bị quyết định bởi tầm phát sóng của trạm mặt đất mà chuyển sang bị quyết định bởi lượng nhiên liệu mang theo. Một máy bay được nạp chương trình bay với 50 điểm tham chiếu trải dài 2.000 km có thể cất cánh, bay toàn bộ hành trình, thực hiện nhiệm vụ tại mục tiêu và quay về hoàn toàn tự động mà không cần nhận bất kỳ lệnh nào trong suốt quá trình. Trạm mặt đất chỉ cần can thiệp khi muốn thay đổi kế hoạch hoặc ra lệnh đặc biệt.
Phá vỡ phụ thuộc địa hình
Các liên kết vô tuyến trực tiếp bị giới hạn bởi tầm liên lạc ngắn và dễ bị cản trở bởi chướng ngại vật. Nhưng với SATCOM, tín hiệu đi từ trạm lên trời rồi từ trời xuống máy bay — toàn bộ đường truyền nằm trên cao nên không có núi nào hay tòa nhà nào chắn được. Máy bay có thể bay sâu trong thung lũng, phía sau dãy núi hay trên đại dương mênh mông mà trạm mặt đất vẫn duy trì liên kết ổn định.
Phá vỡ điểm đơn hư hỏng
Khi dùng LOS, trạm mặt đất buộc phải triển khai gần khu vực hoạt động, dưới khoảng 400 km, tiềm ẩn nguy cơ bị phát hiện và tấn công. SATCOM cho phép trạm đặt ở hậu phương an toàn cách xa chiến trường hàng nghìn km. Nhờ hệ thống SATCOM nâng cấp, phi công Vệ binh Quốc gia Không quân Mỹ có thể bay các nhiệm vụ trinh sát, giám sát theo thời gian thực gần như bất cứ nơi nào trên thế giới — ngay từ các căn cứ xa ở nội địa Hoa Kỳ.
Phá vỡ hạn chế băng thông
Việc nâng cấp SATCOM cho MQ-9 đã tăng gấp đôi lượng dữ liệu mà máy bay có thể truyền và nhận, đồng thời giảm độ trễ truyền dẫn xuống mười lần. SATCOM băng Ku và Ka hiện đại cung cấp băng thông hàng Mbps, đủ để truyền video độ phân giải cao, dữ liệu radar khẩu độ tổng hợp và nhiều luồng cảm biến đồng thời.
________
Không phải mọi vệ tinh đều giống nhau. Vệ tinh được đặt ở quỹ đạo Trái Đất thấp (LEO), quỹ đạo trung bình (MEO) hoặc quỹ đạo địa tĩnh (GEO), và vệ tinh càng gần Trái Đất thì độ trễ tín hiệu càng thấp.
Vệ tinh địa tĩnh (GEO) bay ở độ cao 35.786 km, đứng yên so với mặt đất, phủ một phần ba Trái Đất và không cần chuyển giao. Tuy nhiên, độ trễ lên đến 500 đến 700 mili-giây khiến nó không phù hợp cho điều khiển trực tiếp theo thời gian thực. SATCOM qua vệ tinh địa tĩnh phù hợp nhất cho các hoạt động bay tự hành, nơi con người giám sát tổng thể thay vì lái trực tiếp. Các hệ thống tiêu biểu gồm Inmarsat, Viasat và WGS quân sự của Mỹ.
Vệ tinh quỹ đạo trung bình (MEO) bay ở độ cao 8.000 đến 20.000 km, là nơi đặt các chòm vệ tinh định vị GPS, GLONASS, Galileo và BeiDou cung cấp tín hiệu GNSS cho máy bay xác định vị trí.
Vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO) bay ở độ cao 200 đến 2.000 km, có độ trễ cực thấp chỉ 20 đến 40 mili-giây — gần tương đương liên kết trực tiếp, rất phù hợp cho điều khiển theo thời gian thực. Các mạng vệ tinh LEO như Iridium, Starlink hoặc OneWeb cung cấp kết nối với độ trễ thấp đáp ứng yêu cầu chỉ huy và điều khiển tức thì. Tuy nhiên, mỗi vệ tinh LEO chỉ phủ vùng nhỏ và di chuyển nhanh trên bầu trời, nên cần chòm vệ tinh lớn gồm hàng trăm đến hàng nghìn chiếc cùng khả năng chuyển giao liên tục.
Xu hướng hiện tại cho thấy các lực lượng quân sự tiên tiến đang kết hợp cả ba loại: vệ tinh địa tĩnh cho nhiệm vụ trinh sát dài hạn với máy bay tự hành, vệ tinh quỹ đạo thấp cho điều khiển thời gian thực trong tác chiến cường độ cao, và GNSS trên quỹ đạo trung bình cho định vị xuyên suốt.
________
2,390003
Rào cản thứ tư: điểm đơn hư hỏng
Nhiều hệ thống lái tự động hiện tại phụ thuộc rất lớn vào liên kết dữ liệu để hoàn thành nhiệm vụ. Khi máy bay chỉ phụ thuộc vào một trạm duy nhất, việc trạm bị tấn công hỏa lực, hư hỏng hay bị chế áp điện tử sẽ lập tức khiến máy bay mất điều khiển. Bất kỳ nỗ lực tấn công hoặc vô hiệu hóa luồng thông tin nào cũng đều có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng cho toàn bộ hoạt động của hệ thống.
Rào cản thứ năm: hạn chế băng thông
Liên kết truyền thông dành riêng cho thông tin liên lạc an toàn giữa trạm mặt đất và máy bay có tốc độ dữ liệu khiêm tốn, tối đa khoảng 300 kbps cho video nén. Con số này hoàn toàn không đủ để truyền video độ phân giải cao theo thời gian thực, dữ liệu radar khẩu độ tổng hợp (SAR) hay tình báo tín hiệu những yêu cầu cốt lõi của các nhiệm vụ trinh sát giám sát hiện đại.
________
PHẦN II. DẪN ĐƯỜNG VỆ TINH PHÁ VỠ TỪNG GIỚI HẠN NHƯ THẾ NÀO
Trước hết cần hiểu rằng khi nói "dẫn đường vệ tinh cho máy bay không người lái", thực chất đang nói đến hai hệ thống khác nhau về bản chất nhưng bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo.
Hệ thống thứ nhất là định vị vệ tinh toàn cầu (GNSS). Đây là nhóm các hệ thống như GPS của Mỹ, GLONASS của Nga, BeiDou của Trung Quốc và Galileo của Liên minh châu Âu. GNSS được sử dụng trong máy bay không người lái để dẫn đường theo điểm tham chiếu (waypoint), đo ảnh hàng không và điều khiển đường bay tự động. Bộ thu GNSS trên máy bay liên tục nhận tín hiệu từ các vệ tinh định vị, tính toán tọa độ ba chiều chính xác của mình rồi so sánh với hành trình bay đã được lập trình sẵn. Máy tính điều khiển bay tự động hiệu chỉnh đường bay để đi qua từng điểm waypoint. Điều cốt lõi ở đây là GNSS chỉ thu tín hiệu một chiều từ vệ tinh để xác định vị trí — nó không cần trạm mặt đất gửi lệnh liên tục, và đây chính là chìa khóa cho phép máy bay tự hành ở tầm xa.
Hệ thống thứ hai là truyền thông vệ tinh (SATCOM). Hệ thống này sử dụng các vệ tinh thông tin liên lạc hoạt động trên băng Ku, Ka hoặc X-band quân sự làm trạm chuyển tiếp. Lệnh điều khiển từ trạm mặt đất được phát lên vệ tinh, rồi vệ tinh chuyển tiếp xuống máy bay, và ngược lại cho dữ liệu từ máy bay về trạm. MQ-9 Reaper được trang bị cả liên kết LOS băng C lẫn liên kết ngoài tầm nhìn (Beyond Line-of-Sight, viết tắt BLOS) qua SATCOM băng Ku. Chính sự kết hợp giữa GNSS và SATCOM là lý do máy bay không người lái hiện đại có thể hoạt động ở bất kỳ đâu trên Trái Đất.
Giờ hãy xem hai hệ thống này phá vỡ từng rào cản đã phân tích ở trên như thế nào.
Phá vỡ chân trời vô tuyến
Đây là thay đổi mang tính cách mạng nhất. Trong liên kết LOS, tín hiệu phải đi ngang qua bề mặt Trái Đất từ trạm đến máy bay nên bị độ cong Trái Đất chặn lại ở vài trăm km. Nhưng với SATCOM, tín hiệu đi theo đường hoàn toàn khác: từ trạm mặt đất phát lên vệ tinh theo hướng lên trời, rồi vệ tinh chuyển tiếp xuống máy bay theo hướng xuống. Cả hai đoạn đều gần thẳng đứng nên độ cong Trái Đất không còn ý nghĩa gì nữa.
Một vệ tinh địa tĩnh bay ở độ cao 35.786 km có vùng phủ sóng bao trùm khoảng một phần ba bề mặt Trái Đất. Chỉ cần ba vệ tinh địa tĩnh đặt cách đều nhau là phủ gần như toàn bộ địa cầu trừ hai cực. Máy bay bay ở bất kỳ độ cao nào từ vài trăm mét trở lên đều nhìn thấy ít nhất một vệ tinh phía trên, và liên kết được thiết lập bất kể máy bay ở đâu hay cách trạm mặt đất bao xa.
Kết quả thực chiến minh chứng rõ nhất là trường hợp MQ-9 Reaper. Khi chỉ dùng LOS, tầm điều khiển đạt khoảng 50 đến 100 hải lý. Nhưng khi sử dụng SATCOM thì tầm hoạt động trở thành toàn cầu, chỉ bị giới hạn bởi nhiên liệu. Theo thông số của Không quân Mỹ, MQ-9 Reaper có tầm bay khoảng 1.150 dặm (tương đương khoảng 1.852 km) ở cấu hình cơ bản, bán kính nhiệm vụ có thể đạt trên 1.000 hải lý tùy phiên bản và tải trọng, kèm thời gian tuần tra trên mục tiêu.
2,140007
Khi nhìn chiếc VU-MALE của Viettel trưng bày tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam, với thân máy bay sơn họa tiết chim lạc đặc trưng, tháp quang điện tử lắp dưới bụng và cánh treo vũ khí hai bên, nhiều người sẽ tự hỏi vì sao một chiếc máy bay không người lái như vậy có thể hoạt động ở cự ly hơn 1.000 km, trong khi những chiếc drone thông thường chỉ bay được vài chục km rồi mất tín hiệu. Câu trả lời nằm ở một công nghệ then chốt mà bất kỳ ai nghiên cứu về tác chiến không người lái đều phải nắm vững — đó là dẫn đường vệ tinh.
________
PHẦN I. NĂM RÀO CẢN VẬT LÝ CỦA TRẠM ĐIỀU KHIỂN MẶT ĐẤT
Trong cấu hình truyền thống, máy bay không người lái được điều khiển thông qua liên kết vô tuyến trực tiếp giữa trạm mặt đất và máy bay. Liên kết này hoạt động theo nguyên lý tầm nhìn thẳng (Line-of-Sight, viết tắt là LOS), nghĩa là giữa anten phát của trạm mặt đất và anten thu trên máy bay phải tồn tại một đường truyền sóng không bị cản trở bởi đồi núi, công trình, rừng cây, hay quan trọng nhất là không bị chính độ cong của Trái Đất chặn lại.
Các liên kết LOS thông dụng hoạt động trên nhiều dải tần khác nhau. Ở dải thấp nhất là UHF, thường dùng khoảng 300 MHz đến 1 GHz cho các liên kết chỉ huy cơ bản. Tiếp theo là băng L từ 1 đến 2 GHz, băng S từ 2 đến 4 GHz và băng C từ 4 đến 8 GHz — đây là các ký hiệu phân loại theo tiêu chuẩn IEEE thường dùng trong lĩnh vực radar và truyền thông quân sự. Với các drone nhỏ, liên kết điều khiển thường dùng tần số 2,4 GHz hoặc 5,8 GHz với công suất phát hạn chế, chỉ đạt tầm vài km đến vài chục km. Với các hệ thống quân sự lớn hơn, tiêu biểu như MQ-9 Reaper của Mỹ sử dụng liên kết LOS băng C, tầm điều khiển trực tiếp đạt khoảng 50 đến 100 hải lý, tức khoảng 93 đến 185 km tùy thuộc vào địa hình và độ cao anten. Nghe có vẻ đủ dùng, nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy vì LOS bị ràng buộc bởi năm rào cản vật lý không thể vượt qua.
Rào cản thứ nhất: chân trời vô tuyến
Đây là rào cản nghiêm trọng nhất. Sóng vô tuyến truyền theo đường gần thẳng trong khi bề mặt Trái Đất lại cong, do đó tồn tại một khoảng cách tối đa mà tín hiệu có thể đi được trước khi bị độ cong Trái Đất che khuất hoàn toàn. Khoảng cách này được tính bằng công thức:
d = 3,57 × (√h₁ + √h₂)
Trong đó d tính bằng km, h₁ là độ cao anten trạm mặt đất tính bằng mét, h₂ là độ cao bay của máy bay tính bằng mét.
Để hình dung cụ thể: một trạm điều khiển dã chiến có anten đặt trên cột cao 10 mét điều khiển máy bay bay ở độ cao 5.000 m. Thay vào công thức ta được d ≈ 264 km. Đó là giới hạn tuyệt đối — bất kể trạm mặt đất có phát bao nhiêu watt hay anten có độ lợi bao lớn, nếu máy bay vượt qua 264 km thì Trái Đất sẽ chắn mất đường truyền sóng và liên kết đứt hoàn toàn.
Ngay cả ở độ cao 15 km, tức trần bay của những máy bay không người lái trinh sát tầm cao bay lâu hàng đầu thế giới như RQ-4 Global Hawk, tầm LOS lý thuyết cũng chỉ đạt khoảng 449 km — một con số rất nhỏ so với yêu cầu tác chiến tầm xa hàng nghìn km.
Rào cản thứ hai: suy hao tín hiệu trong không gian tự do
Ngay cả khi chưa chạm đến chân trời vô tuyến, tín hiệu LOS vẫn bị suy yếu dần theo khoảng cách. Công thức suy hao không gian tự do (Free-Space Path Loss, viết tắt FSPL) là:
FSPL (dB) = 20 × log(d) + 20 × log(f) + 32,45
Với d tính bằng km và f tính bằng MHz. Ở khoảng cách 200 km với tần số băng C là 5 GHz, suy hao lên tới khoảng 152 dB một giá trị cực lớn đòi hỏi công suất phát cao và anten có độ lợi lớn mới duy trì được liên kết.
Rào cản thứ ba: chướng ngại vật địa hình
Các tòa nhà, đồi núi và các cấu trúc vật lý khác có thể cản trở hoàn toàn tầm nhìn thẳng. Điều kiện thời tiết bất lợi như mưa lớn, sương mù hoặc tuyết cũng gây suy giảm tín hiệu. Trong các chiến trường có địa hình phức tạp như vùng núi Afghanistan, rừng rậm Đông Nam Á hay đô thị đổ nát ở Trung Đông, trạm mặt đất có thể mất liên lạc với máy bay ngay cả khi khoảng cách thực tế còn rất xa mới chạm giới hạn lý thuyết.
2,6700023
Photo1/4
Ngòi nổ vô tuyến do Vietel sản xuất cho tên lửa phòng không thuộc hệ thống S-125VT, tên lửa có phát nổ tiêu diệt mục tiêu hay không là nhờ cái thứ trên ảnh.
3,3300070
Về bố trí bên trong, động cơ của xe đặt lệch về phía bên phải thân xe. Chi tiết này có thể nhận thấy qua vị trí ống xả nằm gần khu vực giữa thân xe. Cách bố trí động cơ như vậy giúp dành không gian phía sau cho khoang chở quân và cửa hậu. Đây là thiết kế phổ biến trên xe chiến đấu bộ binh hiện đại, vì cửa hậu cho phép bộ binh lên xuống xe nhanh hơn, an toàn hơn so với cửa bên, nhất là khi xe đang quay mặt về hướng có hỏa lực đối phương.

XTC-03 có cửa hậu, cửa nóc để đổ quân, đồng thời trên thân xe có các lỗ châu mai cho phép bộ binh bên trong quan sát và sử dụng vũ khí cá nhân trong một số tình huống cần thiết. Bố trí này giúp xe giữ đúng vai trò của một xe chiến đấu bộ binh: vừa chở quân, vừa bảo vệ bộ binh trong quá trình cơ động, vừa có thể chi viện hỏa lực khi đổ quân hoặc khi đội hình bộ binh triển khai chiến đấu.

Một điểm quan trọng khác là XTC-03 có khả năng bơi. Đây là năng lực rất phù hợp với điều kiện địa hình Việt Nam, nơi có nhiều sông ngòi, kênh rạch, vùng trũng và địa hình chia cắt. Khả năng bơi giúp xe tăng tính cơ động chiến dịch, giảm phụ thuộc vào cầu phà, đồng thời cho phép lực lượng cơ giới vượt chướng ngại nước nhanh hơn trong một số tình huống tác chiến.

Về khả năng nâng cấp, nếu muốn tăng mức bảo vệ, XTC-03 hoàn toàn có thể được bổ sung các module giáp tăng cường, trong đó có hướng sử dụng giáp gốm do Z113 nghiên cứu. Giáp gốm có ưu điểm là tăng khả năng chống đạn xuyên, trong khi vẫn giúp kiểm soát khối lượng tốt hơn so với một số loại giáp thép truyền thống. Với một xe bánh lốp có yêu cầu cơ động và khả năng bơi, việc cân bằng giữa giáp bảo vệ, trọng lượng và tính cơ động là vấn đề rất quan trọng.

Tổng thể, XTC-03 cho thấy hướng phát triển khá rõ ràng: một xe thiết giáp bánh lốp 8x8 có tốc độ cao, khả năng bảo vệ phân cấp hợp lý, hỏa lực 30 mm đủ mạnh, trang bị quan sát - ngắm bắn hiện đại, có khả năng bơi, có cửa hậu đổ quân và được tính đến khả năng nâng cấp giáp trong tương lai. Đây là cấu hình thực dụng, phù hợp với điều kiện tác chiến và địa hình Việt Nam, đồng thời thể hiện bước tiến đáng chú ý trong năng lực thiết kế, tích hợp và làm chủ khí tài thiết giáp trong nước.
1,9600055
Hôm nay kênh QPVN công khai video XTC-03, qua hình ảnh có thể thấy nó giống 90 % ảnh page công khai.

Chỉ có những lúc trang này đói content mới đi kiếm bả lừa mem chứ đã cho coi cái gì thì 100% có thật và giống y hệt, dám khảng định không page nào chiều mem như trang này đâu.

Về tổng thể, XTC-03 là xe thiết giáp bánh lốp cấu hình 8x8, có khả năng cơ động cao, phù hợp với nhiệm vụ chở quân, chi viện hỏa lực và tham gia tác chiến hiệp đồng binh chủng. Thiết kế xe theo hướng hiện đại, thân xe có dáng vát nghiêng nhằm tăng khả năng chống đạn.

Về khả năng bảo vệ, cấu hình cơ bản của XTC-03 đạt chuẩn STANAG cấp 2 trên phần lớn thân xe. Riêng khu vực mặt trước tháp pháo được tăng cường lên cấp 3, trong khi mặt trước thân xe đạt cấp 4. Cách bố trí này là hợp lý đối với một xe chiến đấu bộ binh bánh lốp, vì hướng chính diện thường là khu vực dễ hứng chịu hỏa lực đối phương nhất. Việc tăng cường giáp ở mặt trước giúp xe có khả năng sống sót tốt hơn khi cơ động tiến công, vượt qua khu vực nguy hiểm hoặc khi phải đối đầu trực diện với hỏa lực bộ binh, súng máy hạng nặng và các loại đạn xuyên giáp cỡ nhỏ.

Ngoài bảo vệ chống đạn, xe còn có khả năng kháng mìn cấp 2, tương đương mức chịu nổ khoảng 6 kg TNT theo thông tin thể hiện trên hình ảnh. Đây là yếu tố rất quan trọng đối với xe thiết giáp hiện đại, nhất là trong điều kiện tác chiến có nhiều nguy cơ từ mìn chống tăng, mìn tự chế và vật nổ ven đường. Khả năng kháng mìn giúp bảo vệ kíp xe và bộ binh trong khoang chở quân, đồng thời tăng độ tin cậy khi xe hoạt động trên địa hình phức tạp.

XTC-03 có tốc độ tối đa khoảng 85 km/h, cho thấy xe được thiết kế với yêu cầu cơ động cao trên đường bộ. Với cấu hình bánh lốp 8x8, xe có lợi thế về tốc độ hành quân, tầm hoạt động và khả năng triển khai nhanh hơn so với nhiều loại xe bánh xích. Đây là điểm phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại, nơi lực lượng cơ giới cần cơ động nhanh, thay đổi đội hình linh hoạt và có thể triển khai trên nhiều hướng khác nhau.

Xe được trang bị hệ thống chữa cháy tự động, điều hòa không khí và khả năng bảo vệ NBC, tức là bảo vệ kíp xe trước môi trường nhiễm xạ, sinh học và hóa học. Những trang bị này cho thấy XTC-03 không chỉ được thiết kế cho nhiệm vụ chiến đấu thông thường, mà còn tính đến khả năng hoạt động trong môi trường chiến trường phức tạp, thời gian dài và cường độ cao. Điều hòa không khí cũng là trang bị có giá trị thực tế lớn, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, giúp duy trì sức bền và khả năng tác chiến của kíp xe cũng như bộ binh đi cùng.

Về hỏa lực, XTC-03 được trang bị pháo tự động 30 mm, có thiết kế dựa trên hệ pháo tương tự loại dùng trên BMP-2. Đây là cỡ pháo phù hợp cho xe chiến đấu bộ binh, đủ sức tiêu diệt sinh lực, công sự nhẹ, xe thiết giáp hạng nhẹ, mục tiêu hỏa điểm và các mục tiêu mặt đất ở cự ly trung bình. Pháo 30 mm cũng cho phép xe chi viện trực tiếp cho bộ binh trong tiến công hoặc phòng ngự, đặc biệt khi cần áp chế hỏa lực đối phương.

Điểm đáng chú ý là XTC-03 được trang bị cả kính ngắm pháo thủ và CITV. CITV có thể hiểu là kính ngắm quan sát độc lập dành cho trưởng xe, cho phép trưởng xe tự quan sát, phát hiện và chỉ thị mục tiêu mà không phụ thuộc hoàn toàn vào hướng ngắm của pháo thủ. Nhờ đó, xe có thể thực hiện phương thức “săn tìm - tiêu diệt”, trong đó trưởng xe tìm mục tiêu mới trong khi pháo thủ đang bám bắt hoặc khai hỏa vào mục tiêu hiện tại. Đây là một đặc điểm rất quan trọng trên xe chiến đấu hiện đại, giúp rút ngắn thời gian phản ứng, mở rộng trường quan sát và nâng cao hiệu quả tác chiến.

Việc XTC-03 có hệ thống quan sát, ngắm bắn tương đối hoàn chỉnh cũng cho thấy năng lực làm chủ khí tài quang học là một lợi thế lớn. Khi tự chủ được các hệ thống kính ngắm, cảm biến và thiết bị quan sát, việc thiết kế, tích hợp, nâng cấp và bảo đảm kỹ thuật cho xe sẽ chủ động hơn rất nhiều. Đây là yếu tố có ý nghĩa lâu dài, không chỉ với riêng XTC-03 mà còn với quá trình phát triển các dòng xe thiết giáp trong nước sau này.
1,7400040
Hehe ,post trực thăng trên page hưởng thọ 2 tiếng ,ai không được coi ráng chịu,mà tin buồn là khả năng cao năm nay nó chưa trưng bày đâu.
Nói chung gặp đội ngũ ad trang này mà soi thì khó lệch lắm.
2,4800061

Showing 30 of 54 posts

Xếp hạng

Yêu cầu đăng nhập

Frequently Asked Questions

Kênh Telegram Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới nói về gì?+

Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới (@hoihongtinquansuvn) là kênh Telegram thuộc danh mục Tin thế giới trên tgdio. Xem xếp hạng, đánh giá, nhận xét và bài đăng trước khi đăng ký. Hiện có khoảng 7.172 người đăng ký trên tgdio.

Làm sao để tham gia Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới (@hoihongtinquansuvn)?+

Mở hồ sơ trên tgdio, dùng Join / Open in Telegram để đăng ký @hoihongtinquansuvn miễn phí.

Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới có phải kênh Tin thế giới tốt không?+

Trên tgdio hãy xem đánh giá, nhận xét, xếp hạng và bài đăng của Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới trước khi tham gia. Hiện có khoảng 7.172 người đăng ký trên tgdio. So sánh với các kênh Tin thế giới tương tự.

Xem thống kê và bài đăng Hội hóng tin quân sự Việt Nam và Thế giới ở đâu?+

Trên tgdio, mở trang @hoihongtinquansuvn để xem thống kê, xếp hạng, đánh giá và bài đăng.