-Thứ ba, hậu cần đơn giản hơn. T53 dùng nhiên liệu phản lực JP-4, chung với máy bay cánh cố định. Động cơ có ít chi tiết chuyển động hơn, chủ yếu là các bộ phận quay tròn, nên bền hơn và dễ bảo dưỡng ngoài chiến trường.
Huey không ra đời với động cơ mạnh ngay từ đầu. Lịch sử của nó là một cuộc chạy đua liên tục để có thêm mã lực.
-UH-1A dùng động cơ T53-L-1, công suất khoảng 770 đến 860 mã lực tùy chế độ. Những chiếc Huey đầu tiên đến miền Nam Việt Nam vào tháng 3 năm 1962. Ngay từ khi thử nghiệm, chúng đã bị đánh giá là thiếu sức mạnh.
-UH-1B dùng động cơ T53-L-5, công suất khoảng 960 mã lực. Đây là bản cải tiến với khoang chở lớn hơn. Khi được lắp súng máy và rocket để làm trực thăng vũ trang, điểm yếu lộ rõ, vũ khí và đạn dược quá nặng so với sức kéo của động cơ.
Động cơ T53-L-11, công suất khoảng 1.100 mã lực, được lắp trên UH-1C, phiên bản trực thăng vũ trang chuyên dụng, và UH-1D, phiên bản thân dài chở quân. Lục quân Mỹ sau đó thay động cơ này cho toàn bộ UH-1B. L-11 trở thành dòng T53 được dùng rộng rãi nhất cho tới khi L-13 ra đời.
Động cơ T53-L-13, công suất khoảng 1.400 mã lực, là bản cải tiến từ L-11, đưa vào sản xuất năm 1966. L-13 trang bị trên UH-1H, phiên bản Huey được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử. Nó cũng được lắp lên UH-1C, khi đó đổi tên thành UH-1M, và trực thăng tấn công AH-1G Cobra.
Có một chi tiết ít người để ý. Trên UH-1H, động cơ T53-L-13 mạnh 1.400 mã lực, nhưng khi lắp vào máy bay nó chỉ được phép dùng khoảng 1.100 mã lực.
Lý do không nằm ở động cơ mà ở hộp số chính, bộ phận truyền lực từ động cơ lên cánh quạt. Bánh răng, trục và ổ đỡ trong hộp số chỉ chịu được một lực xoắn nhất định. Vượt quá giới hạn này, hộp số sẽ mòn nhanh, nứt, thậm chí hỏng ngay khi đang bay. Với trực thăng chỉ có một động cơ, hỏng hộp số gần như đồng nghĩa với thảm họa.
Vậy lắp một động cơ 1.400 mã lực lên chiếc máy bay chỉ được dùng khoảng 1.100 mã lực để làm gì. Câu trả lời nằm ở không khí.
Động cơ turbine ăn không khí. Càng hút được nhiều không khí, nó càng mạnh. Khi trời nóng hoặc ở trên cao, không khí loãng hơn, nghĩa là cùng một thể tích nhưng khối lượng không khí ít hơn. Động cơ hút vào ít hơn, nên yếu đi. Ngoài ra, động cơ turbine còn bị giới hạn bởi nhiệt độ khí thải. Trời càng nóng, không khí đầu vào càng nóng sẵn, động cơ càng nhanh chạm ngưỡng nhiệt cho phép và phải dừng tăng công suất sớm hơn.
Nhưng đó mới là một nửa vấn đề. Nửa còn lại nằm ở cánh quạt. Trực thăng bay lên được là nhờ cánh quạt liên tục đẩy không khí xuống dưới. Khi không khí loãng, cánh quạt phải đẩy mạnh hơn để giữ được cùng một lực nâng, và việc đó lại tốn thêm sức mạnh. Kết quả là Huey bị kẹp từ hai phía, động cơ thì yếu đi, còn cánh quạt lại đòi nhiều sức hơn.
Với động cơ T53-L-11, chỉ cần trời nóng hoặc bay trên cao là sức mạnh thực tế đã tụt xuống dưới 1.100 mã lực. Chiếc trực thăng thiếu lực nâng đúng vào lúc cần nhất, khi chở đầy lính, cất cánh từ một bãi đáp hẹp giữa rừng cây cao, dưới hỏa lực đối phương.
Điểm yếu này lộ ra rõ nhất ở Tây Nguyên, nơi địa hình cao kết hợp với nắng nóng mùa khô.
Tháng 11 năm 1965, Sư đoàn Kỵ binh số 1 Không vận của Mỹ mở chiến dịch tại thung lũng Ia Drang, gần dãy Chư Prông. Đây là trận đánh lớn đầu tiên giữa quân Mỹ và Quân đội Nhân dân Việt Nam, và cũng là phép thử thực chiến lớn đầu tiên của khái niệm kỵ binh bay. Lúc đó động cơ L-13 còn chưa được sản xuất, nên những chiếc Huey chở quân vẫn dùng các động cơ đời trước như L-11.
Hồi ức của các sĩ quan Mỹ tham chiến cho thấy rõ cái giá của việc thiếu công suất.
Trước hết, mỗi chiếc trực thăng chở được ít lính hơn hẳn. Một chỉ huy đại đội kể lại rằng nỗi lo lớn của ông không phải là bãi đáp có hỏa lực đối phương, mà là động cơ yếu của UH-1D cộng với cái nóng. Với tổ bay bốn người, mỗi chiếc Huey thường chỉ chở được 5 đến 6 lính.
Bên cạnh đó, việc đổ quân bị kéo dài và lực lượng bị chia nhỏ. Tiểu đoàn của Trung tá Hal Moore đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray theo từng đợt 8 chiếc. Với chỉ 16 chiếc Huey khả dụng, mỗi vòng đi về mất ít nhất 30 phút. Trong những khoảng trống đó, bộ phận đã xuống trước phải tự trụ vững trong lúc chờ đợt tiếp theo.